VCCA

Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng hợp tác với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản thực hiện báo cáo cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh phân urê tại Việt Nam

Dự án “Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh” (Dự án) là một trong các dự án hợp tác, hỗ trợ kỹ thuật do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ từ nguồn viện trợ ODA của Chính phủ Nhật Bản nhằm mục tiêu tăng cường môi trường cạnh tranh của Việt Nam thông qua việc hoàn thiện chính sách cạnh tranh và tăng cường năng lực thực thi hiệu quả Luật Cạnh tranh 2018 tại Việt Nam.

Nghiên cứu đánh giá thực trạng cạnh tranh trong một số ngành, lĩnh vực kinh tế của Việt Nam là một trong các hoạt động của Dự án nhằm thúc đẩy quá trình giám sát, rà soát thị trường, tăng cường phát hiện các dấu hiệu, nguy cơ xảy ra hành vi phản cạnh tranh để từ đó đưa ra những nhận định, cảnh báo sớm giúp ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh hoặc chuẩn bị cơ sở lý luận, thông tin, dữ liệu giúp đẩy nhanh quá trình điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh tại, tăng cường thực thi hiệu quả pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam.

Trong năm 2021, thị trường phân bón nói chung và các loại phân đạm khác trong đó có phân urê nói riêng đã có những biến động bất thường ảnh hưởng tới người tiêu dùng trong nước. Mặt hàng phân urê chịu sự tác động của nhiều yếu tố khiến cho giá cả tăng cao so với cùng kỳ của những năm trước. Để có cơ sở đánh giá tổng quát, cập nhật dữ liệu thị trường nhằm tiếp tục rà soát, giám sát đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh phân urê tại Việt Nam, trong khuôn khổ Dự án “Hoàn thiện và nâng cao năng lực thực thi Luật Cạnh tranh” do Chính phủ Nhật Bản tài trợ, Cục CT&BVNTD đã tổ chức thực hiện xây dựng báo cáo nghiên cứu “Đánh giá cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh phân urê tại Việt Nam”.

Các thông tin, dữ liệu được thu thập nhằm phục vụ việc đánh giá đặc thù và cấu trúc, mức độ tập trung trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng, phân phối mặt hàng phân urê tại Việt Nam.

1. Tổng quan ngành phân bón

– Khái niệm

Theo quy định tại khoản 20 Điều 2 Luật Trồng trọt số 13/2018/QH14 “phân bón là sản phẩm có chức năng cung cấp chất dinh dưỡng hoặc có tác dụng cải tạo đất để tăng năng suất, chất lượng cho cây trồng”. Phân bón được phân loại tại Nghị định số 84/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định về quản lý phân bón và được phân loại chi tiết tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng lượng phân bón  (QCVN 01-189:2019/BNNPTNT), theo đó phân bón được phân loại thành 3 nhóm gồm: phân bón hóa học (vô cơ), phân bón hữu cơ và phân bón sinh học.

Luật trồng trọt 2018 và các văn bản hướng dẫn hiện nay không có định nghĩa về “phân urê”. Tuy nhiên, căn cứ Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về phân bón số QCVN 01-189:2019/BNNPTNT quy định chỉ tiêu chất lượng chính đối với phân urê, Nhóm nghiên cứu nhận thấy phân urê là phân bón hóa học thuộc nhóm đa lượng – vô cơ đơn.

– Về nhu cầu sử dụng

Trong sản xuất nông nghiệp, phân bón là một trong những vật tư quan trọng, góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, nâng cao chất lượng nông sản. Từ chỗ phải nhập khẩu nhiều loại phân bón, đến nay Việt Nam đã chủ động được nguồn cung một số loại phân bón chủ yếu như phân urê, phân supe lân, phân lân nung chảy, phân bón hỗn hợp NPK, phân bón hữu cơ, …và cùng với phân bón nhập khẩu đã đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp. Trung bình mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng 9 – 10 triệu tấn phân bón vô cơ từ nguồn sản xuất công nghiệp.

Năm 2020, lượng phân bón sản xuất công nghiệp sử dụng là 10,23 triệu tấn, gồm 7,6 triệu tấn phân bón vô cơ (bao gồm các loại phân urê, phân lân, phân kali, NPK, SA, DAP…) và 2,63 triệu tấn phân bón hữu cơ, ngoài ra còn có khoảng 17 triệu tấn phân bón hữu cơ do các nông hộ tự sản xuất để sử dụng từ các nguồn phụ phẩm sẵn có từ trồng trọt, chăn nuôi và chế biến nông sản.

– Về năng lực sản xuất trong nước

Tính đến nay, Việt Nam có khoảng 841 cơ sở sản xuất phân bón đang hoạt động với tổng công suất là 29,25 triệu tấn/năm trong đó, công suất sản xuất phân bón vô cơ là 25,21 triệu tấn/năm, sản xuất phân bón hữu cơ là 4,04 triệu tấn/năm. Trong số các nhà máy sản xuất phân bón vô cơ, có trên 15 nhà máy sản xuất cơ bản có công suất lớn với tổng công suất trên 5 triệu tấn/năm. Dưới đây là quy mô một số đơn vị sản xuất phân bón vô cơ của Việt Nam.

– Về phân bố địa lý

Theo các số liệu thống kê, số cơ sở sản xuất tại khu vực phía Nam chiếm khoảng 75% (tập trung tại một số tỉnh như Long An, Cần Thơ, Tiền Giang, An Giang, Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, …) và số cơ sở sản xuất tại khu vực phía Bắc chiếm khoảng 25% (tập trung tại một số tỉnh/thành như Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương, Yên Bái, Bắc Giang, Ninh Bình …).

+ Các cở sở sản xuất tập trung chủ yếu tại khu vực phía Nam (chiếm khoảng trên 62% số lượng doanh nghiệp và lượng tiêu thụ cả nước), tập trung tại một số tỉnh Long An (nhiều nhất cả nước), Cần Thơ, Tiền Giang, An Giang và thành phố Hồ Chí Minh…

+ Khu vực Miền Trung –Tây Nguyên (chiếm khoảng trên 19% số lượng doanh nghiệp và lượng tiêu thụ cả nước) chủ yếu phân bố tại các tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá.

+ Khu vực Miền Bắc (chiếm khoảng trên 19% số lượng doanh nghiệp và lượng tiêu thụ cả nước) chủ yếu phân bố tại Bắc Giang, Ninh Bình, Hà Nội.

– Về xuất nhập khẩu phân bón

2. Chuỗi giá trị sản xuất, kinh doanh phân urê tại Việt Nam

Thị trường phân urê bao gồm 3 công đoạn: (1) sản xuất – nhập khẩu; (2) bán buôn và (3) bán lẻ.

Sau khi được sản xuất/nhập khẩu, phân urê được phân phân phối theo phương thức phù hợp với nhu cầu tiêu thụ. Với mục đích trồng trọt/chăn nuôi, doanh nghiệp sản xuất đóng gói phân trong bao bì và phân phối theo hệ thống nhà phân phối/cửa hàng. Với mục đích sản xuất trong ngành công nghiệp khác, doanh nghiệp sản xuất không đóng gói mà giao nhận dưới dạng rời.

3. Công đoạn sản xuất – nhập khẩu

Phân urê trên thị trường Việt Nam được cung ứng từ nguồn sản xuất trong nước hoặc nguồn nhập khẩu từ nước ngoài.

– Nguồn sản xuất trong nước

Hiện nay, Việt Nam có 04 nhà máy sản xuất urê với tổng công suất khoảng đạt 2.270 tấn /năm. Trên thực tế, sản lượng sản xuất phân urê của 04 nhà máy nêu trên trong thời gian từ năm 2018 cho tới nay liên tục gia tăng.

– Nguồn nhập khẩu

Trong tất cả nhóm phân bón, phân urê là sản phẩm có tỷ trọng nhập khẩu ít nhất. Trong 8 tháng đầu năm 2021, sản lượng nhập khẩu phân urê đạt 245,9 nghìn tấn với tổng giá trị đạt 96,5 triệu USD chiếm khoảng 7,8% tổng sản lượng nhập khẩu phân bón, chiếm 10,6% tổng giá trị nhập khẩu phân bón.

Trên thị trường, có 02 nhóm doanh nghiệp tham gia vào hoạt động nhập khẩu phân urê để cung ứng tại Việt Nam, bao gồm: doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp thương mại khác.

Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, sản lượng nhập khẩu phân urê trên toàn quốc trong thời gian từ 2018 cho tới nay liên tục giảm một cách đáng kể. Năm 2018, sản lượng nhập khẩu phân urê cả nước đạt 525,796 nghìn tấn. Tuy nhiên, sản lượng nhập khẩu năm 2019 chỉ đạt khoảng 75% năm 2018. Năm 2020, tổng sản lượng nhập khẩu chỉ ở mức 111,416 nghìn tấn, tương đương khoảng 21% năm 2018.

Nguồn: Cục Hóa chất, Bộ Công Thương, đơn vị: tấn.

Năm 2018 2019 2020
Sản lượng nhập khẩu 525,796 396,143 111,416

Nói cách khác, tại thời điểm hiện nay, sản xuất trong nước là nguồn cung ứng chính trên thị trường phân urê tạiViệt Nam.

4. Công đoạn bán buôn – bán lẻ

Đối với công đoạn bán buôn, tại thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất chủ yếu thực hiện việc phân phối thông qua 02 hình thức chính, gồm:

+ Hệ thống nhà phân phối/đối tác thương mại nhằm cung ứng phân urê trên thị thị trường. oanh nghiệp sản xuất bán trực tiếp sản phẩm cho nhà phân phối và các đối tác thương mại. Doanh nghiệp sản xuất đóng vai trò là người bán, nhà phân phối/đối tác thương mại đóng vai trò người mua với số lượng lớn và/hoặc thường xuyên.

+ Phân phối sản phẩm thông qua các đơn vị thành viên, từ đó, các đơn vị thành viên ký kết hợp đồng với hệ thống nhà phân phối và đối tác của mình.

Đối với công đoạn bán lẻ, thị trường bán lẻ phân urê sôi động với sự tham gia nhiều cửa hàng và nhà phân phối trên toàn quốc. Các cửa hàng, nhà phân phối này có thể dễ dàng tiếp cận nguồn cung từ công đoạn bán buôn. Mỗi một cửa hàng có thể phân phối nhiều mặt hàng phân bón cũng như các sản phẩm phân urê với thương hiệu khác nhau.

5. Đánh giá về cấu trúc thị trường

– Mối quan hệ tương quan giữa thị trường phân urê và nền kinh tế

Dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, thị trường phân urê được xem là một thị trường liên quan. Tuy nhiên, trong mối tương quan với tổng thể nền kinh tế, thị trường phân urê được xem là thị trường hạ nguồn của lĩnh vực khai khác tài nguyên thiên nhiên (khí và than), đồng thời, cũng là thị trường thượng nguồn của lĩnh vực sản xuất công nghiệp khác (phân bón khác và keo).

Các hành vi cản trở cạnh tranh trên thị trường phân urê có thể không chỉ tác động tới lĩnh vực trồng trọt mà còn tác động đa chiều tới nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Đáng lưu ý rằng đối tượng cuối cùng chịu tác động hành vi hạn chế cạnh tranh là người tiêu dùng (nông dân, tổ chức, cá nhân sử dụng phân bón để trong lĩnh vực trồng trọt và người tiêu dùng sử dụng sản phẩm công nghiệp sản xuất từ phân urê).  Do vậy, hành vi hạn chế cạnh tranh xảy ra trên thị trường phân urê có khả năng gây thiệt hại đáng kể tới phúc lợi xã hội cũng như quyền lợi của người tiêu dùng.

– Cấu trúc thị trường phân urê

Thị trường phân urê được dẫn dắt bởi công đoạn sản xuất. Doanh nghiệp sản xuất có khả năng chi phối các doanh nghiệp ở công đoạn khác trên thị trường. Trong khi đó, do tính chất tự nhiên của thị trường (rào cản gia nhập lớn), số lượng doanh nghiệp sản xuất giới hạn không đáng kể và ổn định trong thời gian dài. Do vậy, dưới góc độ kinh tế học, thị trường phân urê có cấu trúc thị trường độc quyền nhóm, sức mạnh tích tụ tại nhóm doanh nghiệp sản xuất.

Thị trường phân urê là thị trường đặc thù, việc sản xuất dựa trên nguồn nguyên liệu là tài nguyên thiên nhiên từ nguồn tài nguyên quốc gia (khí và than), nên doanh nghiệp sản xuất hiện nay đều là doanh nghiệp nhà nước, đồng thời sản phẩm đầu ra được sử dụng với mục đích chính là phục vụ trồng trọt. Do vậy, các biện pháp sau đây được đưa ra nhằm lập môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng, tăng cường khả năng tiếp cận thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế, phúc lợi xã hội và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

6. Kiến nghị

6.1. Nhóm khuyến nghị về chính sách và pháp luật

Thứ nhất, cần duy trì chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước (bao gồm doanh nghiệp nhà nước) tham gia công đoạn sản xuất urê, nhằm đảm bảo lợi ích của quốc gia trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

Thứ hai, cần duy trì cấu trúc thị trường sản xuất phân urê như hiện nay với sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước. Hiện nay, trên công đoạn sản xuất, có sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước thuộc hai Tập đoàn nhà nước do ngành sản xuất urê yêu cầu vốn đầu tư lớn, khó có doanh nghiệp trong nước có vốn ngoài nhà nước có năng lực tài chính đủ mạnh để tham gia vào công đoạn này. Do vậy, việc duy trì các doanh nghiệp này trên thị trường là cần thiết, nhằm tạo nên các động lực cạnh tranh giữa các nhóm doanh nghiệp với nhau, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế và phúc lợi của người tiêu dùng cũng như của xã hội.

Thứ ba, cần xây dựng các chính sách liên quan đến giám sát hoạt động kinh doanh của nhóm doanh nghiệp sản xuất, để ngăn chặn việc lợi dụng lợi thế về cấu trúc thị trường độc quyền nhóm nhằm thực hiện hành vi bóp méo cạnh tranh trên thị trường.

Thứ tư, cần xây dựng các chính sách giải quyết hiện tượng cung vượt cầu trên thị trường hiện nay, tạo động lực cho doanh nghiệp thúc đẩy cạnh tranh. Nhóm nghiên cứu khuyến nghị một số biện pháp như:

  •  Hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm các thị trường ngoài nước để xuất khẩu sản lượng dư thừa;
  •  Nghiên cứu xây dựng, phát triển các ngành công nghiệp sử dụng phân urê làm nguyên liệu.

Thứ năm, cơ quan quản lý chuyên ngành cần có các chính sách hỗ trợ hoạt động kinh doanh của nhóm doanh nghiệp đang gặp vấn đề trong sản xuất kinh doanh tại thị trường phân urê. Như đã đề xuất tại chính sách liên quan đến cấu trúc thị trường, cần thiết duy trì các doanh nghiệp sản xuất như hiện nay để tạo lập vị thế đối trọng, gia tăng động lực cạnh tranh trên thị trường. Song song với rà soát hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban quản lý vốn nhà nước) cần có sự giám sát sát sao, từ đó đưa ra các giải pháp, nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh của nhóm doanh nghiệp này trên thị trường. Chính sách này vừa nâng cao hiệu quả về kinh tế trong tương lai đối với thị trường phân urê nói chung, vừa hạn chế thiệt hại về kinh tế đối với nguồn vốn đầu tư của nhà nước trong việc xây dựng, thành lập nhà máy sản xuất.

6.2. Nhóm khuyến nghị đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Thứ nhất, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xây dựng cơ sở dữ liệu theo dõi thị trường phân urê. Do thị trường sản xuất phân urê tại Việt Nam có mức độ tập trung cao, tác động trực tiếp tới hoạt động trồng trọt của người dân, việc đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng từ đó nâng cao phúc lợi xã hội là cần thiết. Để đảm bảo môi trường cạnh tranh trên thị trường, cần xây dựng các biện pháp để cơ quan nhà nước chủ động nắm bắt các hoạt động bất thường trên thị trường. Một trong những công cụ giám sát thị trường là hệ thống cơ sở dữ liệu về ngành. Cơ sở dữ liệu này bao gồm các chỉ số cơ bản phản ánh cấu trúc thị trường, tình hình biến động trên thị trường, hợp đồng giao dịch giữa các chủ thể trên thị trường. Để tăng tính hiệu quả, việc thu thập số liệu không thể thực hiện bởi đơn lẻ một cơ quan nhà nước nhất định mà cần có sự hợp tác, xây dựng và cơ chế hoạt động giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan. 

Thứ hai, cần tăng cường tuyên truyền phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật cạnh tranh nói riêng đối với các doanh nghiệp trên thị trường phân urê.

6.3. Nhóm khuyến nghị đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên thị trường

Nâng cao nhận thức về pháp luật cạnh tranh cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh phân urê tại Việt Nam:

Việc nhận thức, cách nhìn về một số quy phạm quy định trong pháp luật cạnh tranh của các doanh nghiệp còn chưa nhất quán, nhầm lẫn với tinh thần của luật. Với nhận thức như vậy, có thể xảy ra:

– Vô tình vi phạm Luật Cạnh tranh;

– Chưa biết sử dụng công cụ Luật cạnh tranh để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

– Chưa đánh giá được những tác động và hệ quả do môi trường cạnh tranh bị bóp méo gây ra.

Thứ nhất, việc nâng cao nhận thức cần được triển khai trên mọi phương diện như tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật; phát hành các ấn phẩm về pháp luật cạnh tranh để cập nhật thông tin cho các doanh nghiệp.

Thứ hai, các doanh nghiệp cần chủ động nghiên cứu Luật cạnh tranh và các pháp luật liên quan và cập nhật thông tin một cách thương xuyên. Doanh nghiệp cần chủ động tham vấn với các cơ quan nhà nước hữu quan khi phát hiện các hành vi cạnh tranh có nguy cơ hạn chế môi trường cạnh tranh và tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình.

Với mục đích phòng ngừa các yếu tố có nguy cơ dẫn đến các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các doanh nghiệp nên lưu ý không đưa vào hợp đồng những quy định/điều khoản có thể dẫn tới các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như: (i) Thỏa thuận ấn định giá một cách trực tiếp hay gián tiếp; (ii) Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp thuốc; (iii) Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường.  

Thứ ba, đối với thị trường có mức độ tập trung cao như thị trường phân urê tại Việt Nam, doanh nghiệp được khuyến nghị xây dựng chương trình tuân thủ pháp luật cạnh tranh, hạn chế rủi ro kinh doanh do vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Trên đây là tóm tắt một số nội dung chính của Báo cáo nghiên cứu “Đánh giá cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh phân urê tại Việt Nam”./.

 

tin mới cùng chuyên mục

Danh mục khác

Trước yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế thị trường, Luật Cạnh tranh được ban hành năm 2004, có hiệu lực từ tháng 7 năm 2005 được áp dụng cho tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, c
Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (BVQLNTD) và Điều 8 Nghị định 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 10 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVQLNTD (Nghị định