VCCA

PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỘNG HÒA BA LAN

1. Pháp luật cạnh tranh của Ba Lan

1.1. Quá trình hình thành pháp luật cạnh tranh của Ba Lan

Ba Lan đã sử dụng pháp luật cạnh tranh như một công cụ để xây dựng lại nền kinh tế định hướng thị trường vào những năm 1990. Luật năm 1990 nói chung tuân theo các khái niệm cạnh tranh tiêu chuẩn của châu Âu, nhưng bao gồm các đặc điểm được thiết kế để giải quyết nhu cầu chuyển đổi nền kinh tế, cấu trúc và thiết lập các điều kiện tạo ra một thị trường cạnh tranh. Đạo luật ban đầu của Ba Lan vẫn cấm một số hành vi lạm dụng, chẳng hạn như các điều khoản hợp đồng gây khó dễ, cho dù một bên doanh nghiệp có ưu thế hay không. Doanh nghiệp được cho là có vị trí thống lĩnh nếu chiếm thị phần 30% và Đạo luật này yêu cầu cơ quan quản lý cạnh tranh phải duy trì theo dõi các doanh nghiệp có thị phần trên 80%. Đạo luật này cũng phân biệt các hành vi “độc quyền” với các hành vi “lạm dụng” và ủy quyền cho cơ quan quản lý có quyền kiểm soát giá của các công ty độc quyền. Đạo luật cạnh tranh năm 1990 quy định thành lập Văn phòng Chống độc quyền (“AMO”) để thực hiện công tác quản lý cạnh tranh của Ba Lan.

Vào ngày 21 tháng 4 năm 2007, Đạo luật về Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng của Ba Lan chính thức có hiệu lực. Đạo luật này cho đến hiện tại vẫn là hành lang pháp lý chính của các quy tắc cạnh tranh chung ở Ba Lan. Đạo luật này điều chỉnh các vấn đề về thể chế, nội dung và tố tụng cạnh tranh của luật cạnh tranh Ba Lan. Đạo luật này mô tả các trình tự, thủ tục về tố tụng trong các trường hợp liên quan đến các hành vi TTHCCT và lạm dụng vị trí thống lĩnh, kiểm soát TTKT và lạm dụng quyền tập thể của người tiêu dùng. Tất cả những vấn đề đó ở một mức độ nào đó được quy định một cách riêng biệt nhưng cũng đều có những điểm tương đồng trong nhiều trường hợp. Những điều khoản đó có một vị trí đặc biệt trong đạo luật vì chúng chiếm gần 60% về mặt số lượng của tất cả các điều khoản.

Đặc điểm nổi bật của Đạo luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng Ba Lan là việc có nhiều tham chiếu đến các quy định và quy tắc tố tụng của các pháp luật khác để áp dụng một cách đồng nhất trong hệ thống pháp luật. Có một số đạo luật được dẫn chiều và áp dụng nhiều nhất: Thứ nhất, các quy định chung về quy tắc tố tụng hành chính được quy định trong Đạo luật về Tố tụng hành chính. Điều này có nghĩa là các thủ tục hành chính không được quy định trực tiếp trong Đạo luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng mà thường được quy định trong Đạo luật tố tụng hành chính trừ khi đạo luật này có quy định khác. Thứ hai, quy định về chứng cứ trong Đạo luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng được bổ sung bằng các quy định về chứng cứ của Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể tại Điều 227-315 của Bộ luật. Thủ tục khám xét lần lượt dẫn chiếu đến các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Theo đó, kết quả của kỹ thuật lập pháp này, đó là việc phải có hiểu biết sâu sắc về các quy định tương ứng trong các bộ luật khác nhằm phục vụ tốt cho công tác thực thi Luật Cạnh tranh tại Ba Lan.

1.2. Mục tiêu, phạm vi và đối tượng điều chỉnh

Đạo luật Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng Ba Lan thường được gọi tắt là Đạo luật Chống độc quyền (antimonopoly). Đạo luật chống độc quyền là một đạo luật kinh tế hành chính và chỉ cho phép sự can thiệp bởi các cơ quan công quyền vào thị trường nếu lợi ích công cộng bị ảnh hưởng. Lợi ích công cộng được ưu tiên hàng đầu có vai trò chủ yếu trong việc giúp cơ quan chống độc quyền xác định những trường hợp nào nên được xử lý, lợi ích tư nhân chỉ được bảo vệ khi không xung đột với lợi ích công cộng. Theo đó, chống lại các hành vi phản cạnh tranh và giám sát mức độ tập trung của các doanh nghiệp nếu tác động hoặc có khả năng gây tác động tới cạnh tranh trong lãnh thổ của Ba Lan. Do đó, có thể tiến hành các hoạt động nhằm chống lại bất kỳ doanh nghiệp nào tại bất kể nơi ký kết thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nào hoặc khi có sự tập trung sức mạnh thị trường diễn ra, với điều kiện là các tác động của những hành vi này có thể được phát hiện ở Ba Lan. Hơn nữa, các doanh nghiệp nước ngoài cũng có thể yêu cầu được bảo vệ chống lại bất kỳ hành vi phản cạnh tranh nào của các doanh nghiệp trong nước.

Nhìn chung, Đạo luật này có phạm vi và đối tượng điều chỉnh khá rộng, bao gồm tất cả các hành vi phản cạnh tranh có tác động đến thị trường tại Ba Lan mà không cần quan tâm đến chủ thể hành vi đó ở đâu.

2. Quy định kiểm soát hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT)

Điều 6 của Đạo luật này nghiêm cấm tất cả các thỏa thuận có tác dụng loại bỏ, hạn chế hoặc bất kỳ hành vi phản cạnh tranh nào khác trên thị trường liên quan. Để chứng minh rằng một hợp tác giữa các doanh nghiệp là phản cạnh tranh, cả 03 yếu tố sau phải được tính đến: Sự tồn tại một “thỏa thuận”; Đối tượng hoặc hiệu lực của thỏa thuận; Loại bỏ, hạn chế hoặc gây bất kỳ tác động phản cạnh tranh nào khác.

Tương tự như luật cạnh tranh của EU, Đạo luật chống độc quyền và luật pháp Ba Lan có cách hiểu rất rộng về khái niệm "thỏa thuận" – được định nghĩa tại Khoản 5 Điều 4 của Đạo luật này. Định nghĩa khá rộng về “thỏa thuận” được làm rõ hơn bằng cách đưa ra các các dạng hành vi thỏa thuận phản cạnh tranh cụ thể (tại Điều 6 Đạo luật cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng của Ba Lan), theo đó là:

1. Thỏa thuận trực tiếp hoặc gián tiếp ấn định giá cả và các điều kiện giao dịch khác

2. Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát sản lượng, mua, bán hàng hóa cũng như phát triển kỹ thuật hoặc đầu tư

3. Thỏa thuận phân chia thị trường mua, bán

4. Thỏa thuận áp dụng các điều khoản và điều kiện thỏa thuận phức tạp hoặc không đồng nhất cho bên thứ ba, gây khó khăn cho việc cạnh tranh của các doanh nghiệp này

5. Thỏa thuận ấn định điều kiện ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng

6. Thỏa thuận hạn chế khả năng tiếp cận thị trường hoặc loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận

7. Thỏa thuận thông đồng giữa các doanh nghiệp tham gia đấu thầu hoặc giữa doanh nghiệp tham gia với chủ thầu, về các điều khoản và điều kiện của hồ sơ dự thầu được đề ra, đặc biệt là về phạm vi công việc và giá cả.

2.1. Miễn trừ TTHCCT

Các TTHCCT không bị cấm tuyệt đối và toàn bộ. Đạo luật chống độc quyền quy định hai chế độ miễn trừ đối với các hành vi bị cấm tại Điều 6 của Luật. Đầu tiên, là chế độ miễn trừ tự đánh giá theo Quy tắc tối thiểu (de minimis). Thứ hai, là miễn trừ theo đối tượng và trong phạm vi khối. Những miễn trừ này có thể được coi là sự hợp lý hóa hệ thống bảo vệ cạnh tranh. Chúng cho phép cơ quan chống độc quyền tập trung hơn vào các hành vi vi phạm có tính chất nghiêm trọng tới cạnh tranh trên thị trường.

Quy tắc tối thiểu dựa trên giả định rằng có một số thỏa thuận, mặc dù chúng có tính chất HCCT, nhưng chúng quá nhỏ để tạo ra bất kỳ hiệu ứng đáng kể nào. Theo quy tắc tối thiểu, các thỏa thuận được miễn trừ với điều kiện: (i) các doanh nghiệp (là đối thủ cạnh tranh) tham gia có thị phần kết hợp trong năm liền kề trước khi ký kết thỏa thuận không vượt quá 5%; (ii) các doanh nghiệp (không phải là đối thủ cạnh tranh) tham gia thỏa thuận nếu thị phần của từng doanh nghiệp trong năm liền kề trước khi ký kết thỏa thuận không vượt quá 10%.  Quy tắc tối thiểu không áp dụng cho các TTHCCT nghiêm trọng (hardcore cartel). Do đó, thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế sản xuất và thông thầu luôn bị cấm tuyệt đối theo luật chống độc quyền của Ba Lan.

Chế độ miễn trừ quan trọng thứ hai là miễn trừ theo đối tượng. Khoản 1 Điều 8 quy định việc miễn trừ này dựa trên giả định rằng một số TTHCCT có thể dẫn đến kết quả tích cực, vượt trội hơn các tác động bất lợi của nó, đáp ứng đủ 04 yếu tố sau:

1. Đóng góp vào việc cải tiến sản xuất, phân phối hàng hoá hoặc có các tiến bộ trong kỹ thuật, kinh tế;

2. Chia sẻ lợi ích do thỏa thuận đem lại cho cả người mua và người dùng sản phẩm, dịch vụ;

3.  Không áp đặt lên các doanh nghiệp có liên quan những trách nhiệm thực hiện để đạt được các lợi ích của thỏa thuận đem lại;

4. Không trao cho các doanh nghiệp tham gia khả năng loại bỏ cạnh tranh trên thị trường liên quan đối với một số lượng của hàng hóa, dịch vụ được đề cập.

Khi áp dụng hình thức miễn trừ theo đối tượng, nghĩa vụ chứng minh thuộc về tổ chức, cá nhân tham gia thỏa thuận. Trách nhiệm chứng minh là rất cao vì tất cả các trường hợp miễn trừ phải được giải thích rất chặt chẽ để không làm giảm đi tinh thần chung của đạo luật chống độc quyền.

Cũng thuộc nhóm miễn trừ thứ hai đối với việc cấm các thỏa thuận phản cạnh tranh là các miễn trừ theo khối. Cơ sở lý luận của miễn trừ này cũng giống như đối với miễn trừ cá nhân. Tính đến nay, Hội đồng Bộ trưởng Ba Lan đã ban hành 05 quy định miễn trừ theo khối.

2.2. Chương trình khoan hồng

Đối với các hành vi TTHCT, các bên tham gia có thể nộp đơn xin hưởng khoan hồng toàn bộ nếu đáp ứng các điều kiện sau:

1. Là bên đầu tiên cung cấp thông tin liên quan về sự tồn tại của một TTHCCT bị cấm (khi Cơ quan cạnh tranh Ba Lan chưa có được thông tin), đủ cơ sở để tiến hành các thủ tục tố tụng hoặc ban hành các quyết định cuối cùng trong quá trình tố tụng;

2. Hoàn toàn hợp tác với Cơ quan cạnh tranh Ba Lan trong quá trình tố tụng, cung cấp tất cả các thông tin đang có một cách chủ động hoặc theo yêu cầu;

3. Ngừng tham gia vào thỏa thuận không muộn hơn thời điểm nộp đơn xin khoan hồng;

4. Không phải là người khởi xướng thỏa thuận phản cạnh tranh và không lôi kéo người khác tham gia vào thỏa thuận đó

Tiếp theo đó, các bên có thể được giảm một phần tiền phạt (mức phạt tối đa có thể áp dụng đối với người xin khoan hồng thành công đầu tiên được giảm từ 10% doanh thu hàng năm xuống 5% và 7% hoặc 8% đối với những người xin khoan hồng tiếp theo), trong những trường hợp sau:

1. Chủ động cung cấp cho Cơ quan cạnh tranh Ba Lan bằng chứng củng cố vào việc ban hành ra quyết định;

2. Ngừng tham gia vào thỏa thuận không muộn hơn thời điểm nộp đơn xin khoan hồng;

Đơn xin khoan hồng có thể được nộp trực tiếp, qua đường bưu điện, fax hoặc e-mail. Đơn xin khoan hồng qua fax và e-mail phải được xác nhận bằng văn bản trong vòng ba ngày.

3. Quy định kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

Pháp luật cạnh tranh Ba Lan quan điểm rằng việc đạt được vị trí thống lĩnh không phải là một điều vi phạm pháp luật mà còn cho thấy sự thành công trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mọi hình thức lạm dụng quá mức sức mạnh thị trường dẫn đến HCCT đều bị cấm. Doanh nghiệp thống lĩnh có thể tự do tăng thị phần của họ trên các thị trường khác nhau miễn là các cách thức mà họ đang sử dụng để đạt được mục tiêu không trái với đạo luật chống độc quyền.

Đạo luật chống độc quyền đã đưa ra định nghĩa về vị trí thống lĩnh, theo đó một doanh nghiệp được coi là thống lĩnh thị trường khi vị trí của doanh nghiệp đó trên thị trường cho họ khả năng tác động đáng kể đến cạnh tranh trên thị trường, do đó cho phép doanh nghiệp hoạt động độc lập ở một mức độ cao hơn hẳn với các đối thủ cạnh tranh, đối tác hợp đồng và người tiêu dùng. Hơn nữa, doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh nếu thị phần của họ trên thị trường liên quan vượt quá 40%, ngưỡng giả định này chỉ mang tính hình thức và có thể không cần đến khi đánh giá về vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp. Do vị trí thống lĩnh có thể được thiết lập trong một khoảng thời gian tương đối, vì vậy những thay đổi tạm thời của thị phần hoặc sức mạnh thị trường thường là kết quả của việc thay đổi chiến lược kinh doanh hoặc các yếu tố khác, việc này không phải là căn cứ xác lập vị trí thống lĩnh. Vị trí thống lĩnh có thể là đơn phương và tập thể – cả hai hình thức này đều được quy định trong Đạo luật chống độc quyền của Ba Lan.

Theo pháp luật chống độc quyền của Ba Lan, việc lạm dụng vị trí thống lĩnh có thể được thể hiện dưới hình thức hành động hoặc ngầm, mục đích chính của việc lạm dụng là làm mất đi tính độc lập của những doanh nghiệp khác trên thị trường. Kết quả của hành vi đó là những doanh nghiệp khác buộc phải tiến hành hoạt động kinh doanh của mình với những điều kiện sinh lời ít hơn hoặc bị loại bỏ hoàn toàn khỏi thị trường. Đạo luật chống độc quyền của Ba Lan không xác định khái niệm “lạm dụng” vị trí thống lĩnh thị trường mà đưa ra các dạng hành vi cụ thể về sự lạm dụng đó:

1. Trực tiếp hoặc gián tiếp áp đặt giá không công bằng, bao gồm định giá

2. Hạn chế sản xuất, hạn chế mua, bán hoặc hạn chế tiến bộ công nghệ từ đó gây bất lợi cho các bên tham gia hợp đồng hoặc người tiêu dùng

3. Áp dụng các điều khoản và điều kiện thỏa thuận phức tạp hoặc không đồng nhất cho bên thứ ba, gây khó khăn cho việc cạnh tranh của các doanh nghiệp

4. Ấn định điều kiện ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp khác hoặc yêu cầu doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng

5. Ngăn cản sự hình thành các điều kiện cần thiết cho sự xuất hiện hoặc phát triển của doanh nghiệp khác

6. Áp đặt các điều khoản và điều kiện hợp đồng khó hiểu nhằm thu lợi bất chính

7. Phân chia thị trường theo các tiêu chí lãnh thổ, sản phẩm hoặc tiêu chuẩn của từng chủ thể liên quan

Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là hành vị bị cấm có tính tuyệt đối. Không giống như trong các TTHCCT, Đạo luật chống độc quyền Ba Lan không quy định bất kỳ trường hợp nào được hưởng miễn trừ đối với loại hành vi này.

4. Quy định kiểm soát hoạt động Tập trung kinh tế (TTKT)

4.1. Ngưỡng thông báo TTKT

Khoản 1 Điều 13 của Đạo luật quy định ngưỡng thông báo TTKT có tính chất khách quan và dựa trên doanh thu của các doanh nghiệp, cụ thể:

1. Tổng doanh thu trên thị trường toàn cầu của các doanh nghiệp tham gia TTKT trong năm tài chính trước liên kề trước đó vượt quá 1 EUR; và/hoặc

2. Tổng doanh thu của các doanh nghiệp tham gia TTKT trên thị trường nội địa tại Ba Lan trong năm tài chính liên kề trước đó vượt quá 50 triệu EUR.

Theo đó, tất cả các giao dịch xuyên biên giới, thậm chí chỉ cần ảnh hưởng một chút đến các thị trường trong lãnh thổ Ba Lan đều phải thông báo. Các ngưỡng doanh thu đã tăng lên đáng kể trong vòng 10 năm qua. Việc tăng ngưỡng doanh thu nhằm giảm chi phí cho doanh nghiệp bằng cách hạn chế nghĩa vụ thông báo.

4.2. Miễn trừ nghĩa vụ thông báo TTKT

Tiêu chí cho việc xác định nghĩa vụ thông báo dựa trên cơ sở pháp luật và xuất phát từ tình hình thực tế. Do đó, Điều 14 của Đạo luật này quy định một số trường hợp được miễn trừ nghĩa vụ thông báo TTKT nhằm mục đích loại bỏ các giao dịch được cho là cần giám sát kỹ lưỡng nhưng về bản chất chúng không có khả năng gây ra bất kỳ vấn đề cạnh tranh nào:

1. Doanh thu của doanh nghiệp được quy định tại Điểm 2 Khoản 2 Điều 13 không vượt quá 10 triệu EUR trên thị trường nội địa tại Ba Lan trong bất kỳ năm tài chính nào trong vòng hai năm liền kề trước thông báo;

2. Các hoạt động bình thường tổ chức tài chính, bao gồm đầu tư vào cổ phiếu và phần vốn của các doanh nghiệp khác, bởi tài khoản của chính mình hoặc bởi tài khoản của người khác, mua lại hoặc tiếp quản, trên cơ sở tạm thời, cổ phiếu và phần vốn nhằm mục đích bán lại với điều kiện rằng sẽ bán lại trong vòng một năm kể từ ngày mua lại hoặc tiếp quản, và rằng:

+ Tổ chức này không được hưởng và thực hiện các quyền phát sinh từ các cổ phiếu hoặc phần vốn này, ngoại trừ quyền được chia cổ tức;

+ Thực hiện các quyền này chỉ để chuẩn bị cho việc bán lại toàn bộ hoặc một phần của doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp đó hoặc các cổ phiếu và phần vốn đang nắm giữ.

3. Doanh nghiệp mua lại hoặc tiếp quản tạm thời cổ phiếu và phần vốn với mục đích nhằm đảm bảo cho các khoản nợ, với điều kiện doanh nghiệp đó không thực hiện các quyền phát sinh từ các cổ phiếu hoặc phần vốn này, ngoại trừ quyền bán;

4. Sự tập trung áp dụng cho các doanh nghiệp cùng tham gia vào một nhóm vốn.

Tất cả các trường hợp ngoại lệ đều có tính chất tuyệt đối. Nếu một giao dịch đáp ứng bất kỳ cơ sở nào được nêu trong Điều 14, thì giao dịch đó được miễn trừ khỏi sự giám sát của cơ quan chống độc quyền ngay cả khi giao dịch đó có thể là phản cạnh tranh.

4.3. Thẩm định TTKT

Việc làm các bài “thử nghiệm sáp nhập” (SIEC) là một tập hợp các tiền đề pháp lý dựa trên các lý thuyết kinh tế cho phép cơ quan cạnh tranh có thể thấy trước hậu quả của việc sáp nhập đã được thông báo và phân biệt giữa các TTKT có lợi và gây hại cho cạnh tranh. Căn cứ vào Điều 18 của Đạo luật chống độc quyền Ba Lan: Thủ trưởng Cơ quan cạnh tranh Ba Lan ra quyết định đồng ý để thực hiện một giao dịch TTKT với điều kiện hoạt động TTKT này không dẫn đến cản trở đáng kể tới cạnh tranh trên thị trường, cụ thể là bằng cách tạo ra hoặc củng cố một vị trí thống lĩnh trên thị trường.

Khi phân tích quy định này, có thể kết luận rằng thử nghiệm này là cách xác định, đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Đây là một bài kiểm tra hai bước, trong bước đầu tiên, Cơ quan cạnh tranh Ba Lan phân tích mức độ hạn chế cạnh tranh của việc sáp nhập và trong bước thứ hai, Cơ quan cạnh tranh Ba Lan xem xét sau khi TTKT liệu có tạo ra một doanh nghiệp thống lĩnh hay không. Điểm trọng tâm của việc xác định sức mạnh thị trường là phân tích toàn bộ cấu trúc thị trường nơi doanh nghiệp hoạt động, mức độ ảnh hưởng của đối thủ cạnh tranh và các chủ thể khác trên thị trường bao gồm cả người tiêu dùng, tiềm năng đem đến hiệu quả tích cực của hoạt động TTKT. Theo đó, các yếu tố sau đây sẽ được xem xét (danh sách không đầy đủ):

1. Cấu trúc thị trường – thị phần của doanh nghiệp đang được đánh giá và các đối thủ cạnh tranh, sự thay đổi của thị phần theo thời gian;

2. Hoạt động TTKT của các nhà cung cấp, sự tồn tại của sức mua đáng kể từ phía các đối tác;

3. Các rào cản gia nhập và thoát khỏi thị trường, những cách gia nhập hoặc thoát khỏi có thể có trên thị trường;

4. Giá trị và thay đổi trong tỷ lệ tập trung thị trường và chỉ số HHI;

5. Độ lớn của thị trường, vai trò của chính sách đổi mới và minh bạch thị trường;

6. Tương quan giữa các đối thủ cạnh tranh;

7. Tính đồng nhất của hàng hoá và dịch vụ;

8. Liên kết giữa các đối thủ cạnh tranh và các cơ chế khác tạo điều kiện cho sự hợp tác (thông đồng)”.

Ngoài phân tích thông thường về tác động và hiệu quả của hoạt động TTKT, điểm 1 khoản 2 Điều 20 quy định Cơ quan cạnh tranh Ba Lan có thể xem xét cho phép thực hiện (miễn trừ) ngay cả khi TTKT dẫn đến tác động hạn chế cạnh tranh đáng kể trong trường hợp có khả năng đạt được một số tác động đặc biệt về lợi ích (góp phần vào sự phát triển kinh tế hoặc tiến bộ kỹ thuật).

5. Cơ quan cạnh tranh của Ba Lan

5.1. Văn phòng Cạnh tranh và Bảo vệ Người tiêu dùng (OCCP)

Văn phòng Chống Độc quyền được thành lập lần đầu tiên vào năm 1990 với nhiệm vụ kiểm soát các hành vi TTHCCT và lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường cũng như kiểm soát TTKT khi nền kinh tế bắt đầu chuyển đổi sang cơ chế thị trường tự do. Một sự thay đổi đã diễn ra vào năm 1996, khi sau khi tiến hành quá trình cải cách cơ quan hành chính trung ương, Văn phòng Chống Độc quyền được đặt một cái tên mới đó là Văn phòng Cạnh tranh và Bảo vệ Người tiêu dùng (OCCP) (tiếng Ba Lan là Urząd Ochrony Konkurencji i Konsumentów – UOKiK.) Phạm vi hoạt động của OCCP đồng thời được mở rộng bao gồm thêm công tác bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Và Chủ tịch OCCP được giao quyền quản lý đối với Chánh Thanh tra Thanh tra Thương mại.

Năm 2000, OCCP bắt đầu thực hiện giám sát viện trợ nhà nước cấp cho các doanh nghiệp và giám sát an toàn sản phẩm nói chung. Theo đó, Đạo luật về cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng ngày 15 tháng 12 năm 2000 (có hiệu lực vào tháng 4 năm 2001) xác định các nguyên tắc hoạt động của toàn bộ hệ thống cơ quan cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, trong đó Chủ tịch OCCP giữ vị trí trung tâm.

Ngày 16 tháng 2 năm 2007, một Đạo luật mới về cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng đã được thông qua. Theo đó, cơ quan chống độc quyền là cơ quan hành chính trung ương có hai lĩnh vực hoạt động chính: đầu tiên là các vấn đề chống độc quyền “truyền thống” (chẳng hạn như TTHCCT, độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh và các trường hợp kiểm soát sáp nhập) liên quan đến bảo vệ cạnh tranh (vì lợi ích công cộng) và thứ hai là các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Hơn nữa, OCCP có năng lực giám sát các khoản viện trợ nhà nước và khảo sát thị trường. Chủ tịch của OCCP là thành viên thường trực của Hội đồng các Bộ trưởng và do đó được ủy quyền tham gia vào tất cả các công việc hành pháp của chính phủ, và cũng có nghĩa vụ xây dựng các dự thảo văn bản pháp lý về các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình.

Về nguyên tắc, OCCP là một cơ quan độc lập và ít phải chịu ảnh hưởng chính trị từ các cơ quan hành chính nhà nước khác hoặc từ chính phủ. Do đó, bất kỳ sự can thiệp chính trị nào đều bị loại trừ nếu liên quan đến việc xử lý bất kỳ trường hợp nào do OCCP xử lý. Không có cơ sở pháp lý nào trong hệ thống pháp luật cạnh tranh của Ba Lan cho phép bất kỳ cơ quan có nhà nước nào khác thay đổi quyết định hoặc áp đặt các nghĩa vụ đối với OCCP.

Theo các quy định nêu trên trong Đạo luật Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng Ba Lan, có thể thấy OCCP là cơ quan ra quyết định và cũng có trách nhiệm thực thi chính sách cạnh tranh. Trách nhiệm tham gia xây dựng văn bản pháp luật, các chương trình nhằm thúc đẩy cạnh tranh cũng là một phần quan trọng trong khối lượng công việc. OCCP tham gia tích cực vào các sáng kiến và diễn đàn hợp tác quốc tế về bảo vệ cạnh tranh, cụ thể là Mạng lưới Cạnh tranh EU (EURpean Competition Network – ECN) và Mạng lưới Cạnh tranh Quốc tế (Internatioanl Competition Network – ICN). Nhân viên của OCCP cũng tham gia vào các tổ soạn thảo các chính sách, pháp luật cạnh tranh.

OCCP bao gồm Văn phòng trung ương ở Warsaw (đối với các vụ việc phản cạnh tranh có phạm vi quy mô quốc gia hoặc xuyên quốc gia) và 09 văn phòng khu vực (chịu trách nhiệm giám sát thị trường địa phương khỏi các hành vi phản cạnh tranh). Văn phòng trung ương bao gồm 21 bộ phận.

Thanh tra thương mại (IH) thực hiện chức năng giám sát thị trường (cũng là một bộ phận cộng thêm của Trung tâm thanh tra tại Warsaw) có 49 cơ quan thanh tra địa hạt cấp tỉnh, 17 phòng thí nghiệm vùng, 01 phòng thí nghiệm quốc gia chuyên về ngành dệt và 02 phòng thí nghiệm cấp thấp hơn về chuyên ngành dệt. Ngoài ra, trong cơ cấu của Thanh tra thương mại còn có 27 Tòa hòa giải. Hiện nay những Tòa này chỉ thực hiện việc giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng.

09 phòng thực nghiệm chuyên ngành, được đặt khắp Ba Lan, thực hiện phân tích kỹ thuật có liên quan với các nhiệm vụ do Thanh tra thương mại thực hiện.

5.2. Tòa án cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng (Tòa chống độc quyền)

Các kháng cáo chống lại các phán quyết của cơ quan chống độc quyền sẽ được xét xử bởi tòa án chống độc quyền có tên chính thức là Tòa án Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng. Về hình thức pháp lý, Tòa án Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng tương đương một tòa án dân sự – là một bộ phận của Tòa án cấp tỉnh ở Warsaw, do Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập.

5.3. Tòa án hành chính

Tòa án hành chính ở Ba Lan bao gồm hai trường hợp: Tòa án hành chính cấp tỉnh (hoặc tiểu bang) và Tòa án hành chính tối cao. Các tòa án hành chính tỉnh sẽ xét xử tất cả các khiếu nại trừ khi vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án hành chính tối cao. Tòa án hành chính tối cao xét xử các kháng nghị phán quyết của các tòa án cấp tỉnh và ban hành các nghị quyết để giải thích các vấn đề pháp lý phức tạp và giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan công quyền.

Đối với các vấn đề liên quan đến luật cạnh tranh, các tòa án hành chính có thẩm quyền xét xử các khiếu nại đối với:

1. Hành vi không hành động của cơ quan chống độc quyền, chẳng hạn như phản ứng chậm hoặc không phản ứng với thông báo chính thức về hành vi phản cạnh tranh tiềm ẩn của những doanh nghiệp tham gia thị trường hoặc hành vi không chuyển hồ sơ cho tòa án chống độc quyền;

2. Kéo dài quá mức thủ tục giải thích và thủ tục xử lý chống độc quyền trong các vụ kiện hành vi phản cạnh tranh;

3. Một số hình thức hoãn hoặc ngừng xử lý công tác chống độc quyền;

4. Trả lại thông báo TTKT./.

tin mới cùng chuyên mục

Danh mục khác

Trước yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế thị trường, Luật Cạnh tranh được ban hành năm 2004, có hiệu lực từ tháng 7 năm 2005 được áp dụng cho tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, c
Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (BVQLNTD) và Điều 8 Nghị định 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 10 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVQLNTD (Nghị định